Số lượt truy cập
8081041
Mail HCMUTRANS
Tên đăng nhập
Mật khẩu
 

Liên hệ:
webmaster
Diễn đàn trực tuyến
 
 
TIN TỨC - SỰ KIỆN - ĐỌC BÁO

HOẠT ĐỘNG CHUNG CỦA TRƯỜNG TIN GD-VH-XH TIN KT-KH-CN

  Tin Giáo Dục - Văn Hóa - Xã Hội
Năm học 2008-2009: Những điểm mới!
(Cập nhật ngày: 22/09/2008)


Năm học này, Bộ GD - ĐT cho biết: Sẽ có nhiều điểm mới dành cho sinh viên.

  >>  Học phí mới: “Chi phí học tập không quá 6% thu nhập gia đình”

  >>  Học chế tín chỉ: Bộ bảo làm, các trường kêu khó!

  >>  Lập Ban chỉ đạo về đào tạo theo nhu cầu xã hội

Tăng học phí, tăng mức vay tín dụng

Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã chính thức thông báo về Đề án học phí mới. Tinh thần chung là học phí sẽ tăng theo hướng có thể bù đắp chi phí thường xuyên của các trường. Cụ thể, đối với chương trình đào tạo đại trà, sẽ có mức học phí hợp lý để phần lớn SV có thể theo học, SV nghèo có thể vay tín dụng thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội đủ đóng học phí và sinh hoạt phí để đi học. Khung học phí được chia theo 7 nhóm ngành đào tạo và theo các trình độ đào tạo. Đối với các chương trình chất lượng cao, ngoài phần ngân sách chi, phần còn lại do người học đóng góp để có chất lượng cao.

Chính sách miễn giảm học phí, học bổng cũng sẽ có sự thay đổi đáng kể mà rõ nét nhất là điều chỉnh phương thức thực hiện chính sách miễn học phí đối với SV sư phạm hiện nay bằng cách thực hiện chính sách tín dụng SV - nếu ra trường, đi dạy học ít nhất 5 năm thì nhà nước sẽ xóa nợ cho phần chi trả cho học phí (cả gốc lẫn lãi). Khoản tiền học bổng, miễn giảm học phí được nhà nước trả trực tiếp cho người học thông qua ngành LĐ – TB – XH, không thông qua cơ sở GD – ĐT, người học tự lựa chọn cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập với mức học phí phù hợp với chất lượng đào tạo. Ngoài SV sư phạm, mọi SV đều sẽ tiếp tục được vay vốn học tập và sinh hoạt nếu thuộc gia đình nghèo, đối tượng chính sách. Mức vay tối đa sẽ được điều chỉnh phù hợp với mức tăng học phí dự kiến và chỉ số giá tiêu dùng (tối đa có thể ở mức 1 triệu đồng/tháng).

Bia2.jpg

Ảnh: Nguyễn Quỳnh Hoa

Theo Bộ trưởng, nếu được Bộ Chính trị thông qua trong tháng 9/2008 thì Đề án có thể triển khai ngay cho Giáo dục ĐH. Ông cũng khẳng định, Đề án sẽ không gây khó khăn cho việc học của SV, nếu SV thực sự khó khăn thì đã có chính sách cho vay tín dụng: “Việc cho vay để đi học khác căn bản với việc cấp tiền – cũng bằng quy mô đó – vào trường ĐH. Và về lâu dài, học phí của khu vực ĐH công lập sẽ không khác so với học phí ngoài công lập”. 

Giảm tải các môn triết học

Từ năm học 2008 - 2009, các môn triết học Mác – Lênin sẽ được giảm tải: Trước đây, là 22 đơn vị học trình thì nay, SV chỉ còn phải học 15 đơn vị học trình. Đồng thời, Bộ GD – ĐT cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ. Tuy nhiên, theo ý kiến của các trường, ngay lập tức thì việc chuyển đổi này khó có thể thực hiện được. Ông Bùi Quang Thế, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp (ĐH Thái Nguyên) cho biết, chuyển sang đào tạo tín chỉ, trường phải kết cấu lại bộ môn. Theo ông, việc SV quen học theo phương pháp “bị động”, nay chuyển sang phương pháp tích cực sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bộ nên giúp các trường mua giáo trình nước ngoài và chuyển dịch “vì giáo trình của chúng ta là viết cho các thầy, không viết cho SV tự học”.

Ông Thế đặc biệt nhấn mạnh tới đặc tính của học chế tín chỉ là không khống chế thời gian lên lớp của SV. Và đó là một “kẽ hở lớn”. Qua thực tế một năm “nới lỏng” quản lý SV tại trường, ông Thế cho biết, đã có lớp có tới 60% SV bỏ học và thi lại không qua.

Nhiều trường đều tỏ ra lo ngại, yêu cầu của Bộ GD - ĐT đến 2010, các trường phải hoàn thành công việc chuyển đổi này nhưng sẽ không dễ gì thực hiện, nhất là đối với các trường ngoài công lập. Điều kiện để đảm bảo cho hình thức đào tạo này là cơ sở vật chất. Nhưng hiện nay, đa số các trường ngoài công lập đều phải đi thuê phòng học thì khó có thể đảm bảo thực hiện thành công hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ.

Gocnhinmo.jpg.jpg

Ảnh: Nguyễn Quỳnh Hoa

Ông Lê Hồng Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật Bình Dương, cho rằng: “Các trường ngoài công lập không có đủ điều kiện về cơ sở vật chất để nâng cao kỹ năng và nghề nghiệp cho SV. Nếu cứ theo quy định của Bộ về diện tích tối thiểu của một trường (tối thiểu là 5 ha) thì phải mất khoảng 10 năm nữa mới triển khai được học chế tín chỉ”. Ngay cả đối với các trường công lập, chuyển sang hình thức đào tạo này các trường cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Theo PGS.TS Bùi Duy Cam, Hiệu trưởng Trường ĐH KHTN (ĐHQG Hà Nội), năm học này, trường chưa áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Năm học tới, theo lộ trình, trường cũng mới chỉ chuyển đổi một số môn vì điều kiện vật chất của trường chưa “sẵn sàng”.Như vậy, cho dù các thầy đều nhận thức rõ rệt, “tín chỉ” là hình thức đào tạo “tiên tiến”, song SV chắc chắn sẽ phải chờ đợi thêm ít nhất vài năm học nữa.

Kiều Hải- Hà Vi

(Nguồn: SVVN - 12/09/2008)


 

Học phí mới: “Chi phí học tập không quá 6% thu nhập gia đình”

Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân.

Đề án học phí mới đã được Chính phủ thông qua, đang chờ trình Bộ Chính trị quyết định. Nếu được đồng ý, học phí mới sẽ áp dụng từ học kỳ 2 năm nay hoặc đầu năm học 2009-2010.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về đề án này.

Học phí cũ không còn phù hợp nữa

Hiện cả nước vẫn còn tới khoảng 15% hộ nghèo, Vậy đề án học phí mới sẽ được tính toán thế nào đối với học sinh, sinh viên nghèo không, thưa ông?

Thực tế, học phí cũ đã thực hiện 10 năm và không còn phù hợp nữa, cho nên phải có khung học phí mới. Đề án học phí mới xây dựng theo nguyên tắc, mức học phí và các chi phí học tập hợp lý khác của gia đình cho con em đi học mầm non và phổ thông không vượt quá 6% thu nhập bình quân của gia đình.

Với dạy nghề, trung cấp, đại học, cao đẳng từng bước phải đảm bảo chi thường xuyên của các nhóm ngành, tiến tới đảm bảo chi phí đào tạo. Tăng học phí nhưng sẽ kèm theo một loại các chính sách cơ chế tài chính hỗ trợ người nghèo, đảm bảo tất cả người nghèo đều được đi học.

Cụ thể, thực hiện miễn học phí đối với học sinh tiểu học, học sinh thuộc diện chính sách, hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia, đồng thời giảm cho các đối tượng cận nghèo.

Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ chi phí học tập. Hiện nay chương trình 135 giai đoạn 2 đã có hỗ trợ, đơn cử như học sinh mẫu giáo ở thôn bản hỗ trợ 70.000 đồng/tháng, học sinh trường trung học ở xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 140.000 đồng/tháng, các chính sách này vẫn tiếp tục được thực hiện.

Mặt khác, Quỹ tín dụng học sinh, sinh viên qua hệ thống vay của Ngân hàng Chính sách hoạt động rất hiệu quả, năm vừa qua đã cho hơn 754.000 học sinh sinh viên vay với số tiền là 5.292 tỷ đồng, phấn đấu 30% học sinh sinh viên được vay vốn đi học.

Thưa ông, mức học phí bậc cao đẳng và đại học sẽ có thay đổi như thế nào?

Học phí đào tạo sẽ chia theo 7 nhóm ngành đào tạo. Hiện nay mức trần là 180.000 đồng, đề án mới sẽ cao hơn. Với đại học, học phí phải gắn liền với chi phí đào tạo, nhưng ngành có chi phí cao dứt khoát phải có học phí cao. Có những ngành Nhà nước sẽ ưu tiên đầu tư. Cao nhất là nhóm ngành y dược, nhưng phải tính toán thêm.

Đối với sinh viên sư phạm, bỏ chế độ miễn học phí nhưng sẽ thực hiện chính sách tín dụng sinh viên. Khi ra trường, nếu đi dạy học ít nhất 5 năm (đối với đại học, cao đẳng) và 3 năm (đối với trung cấp chuyên nghiệp) thì Nhà nước sẽ xoá nợ, cả gốc và lãi phần chi trả cho học phí.

Sử dụng học phí phải công khai

Ông nghĩ sao khi đề án học phí mới chưa thông qua nhưng hầu hết các trường ngoài công lập ngay từ đầu năm học này đã tăng học phí?

Đối với các trường ngoài công lập, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, học phí là một nguồn lực đóng vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là một nguồn chính, để các trường hoạt động và tiếp tục đầu tư phát triển.

Trong bối cảnh giá cả biến động, các chi phí đều tăng như hiện nay, xu hướng tăng học phí của các trường ngoài công lập vào đầu năm học mới này là điều có thể hiểu được. Nhưng thu ở mức nào, tăng bao nhiêu, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập đều phải cân nhắc kỹ lưỡng. Khi xác định mức học phí các trường nên xem xét trong bối cảnh rất nhiều thứ đã tăng giá, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Đồng thời, mức học phí phải tương xứng với kinh phí đầu tư cho hoạt động và chất lượng đào tạo của trường để người học có thể chấp nhận được.

Nhưng thưa ông, thật khó cho người học bởi họ sẽ lấy thông tin ở đâu để đảm bảo rằng, học phí họ nộp sẽ tương xứng với chất lượng đào tạo?

Các trường ngoài công lập không được sự hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách Nhà nước nên phải thu học phí cao hơn công lập. Thu học phí bao nhiêu phụ thuộc nhiều vào mức chi. Khi xác định chi phí đào tạo phải trong các điều kiện cụ thể của từng trường. Một lẽ đương nhiên, nếu một trường xác định mức học phí cao, không tương xứng với chất lượng đào tạo sẽ không thể thu hút được người học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng năm đều tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động của các trường và có báo cáo chi tiết về tình hình hoạt động mọi mặt của các trường ngoài công lập. Các trường cùng với việc thu học phí phải thực hiện công khai việc sử dụng tiền học phí nói riêng và nguồn tài chính của trường nói chung.

Theo luật và các quy định liên quan khác, các trường dân lập, trường tư thục bắt buộc phải thực hiện chế độ công khai tài chính. Không thể để người học đóng tiền trường thu mà không biết sử dụng như thế nào.

Ngay từ năm học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chỉ đạo và kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc các cơ sở đào tạo thực hiện “ba công khai”, trong đó nhất thiết phải có sự công khai với người học về việc sử dụng nguồn học phí.

Các trường sẽ bắt buộc phải công khai các điều kiện để thực hiện đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất để đảm bảo đào tạo công khai sử dụng nguồn thu, chất lượng đào tạo. Sẽ xây dựng một trang web đưa công khai toàn bộ thông tin của các trường lên để cung cấp thông tin cho người dân, người học có thể tham khảo, chọn trường.

Dũng Hiếu

(Nguồn: VnEconomy - 08/09/2008)


 

Học chế tín chỉ: Bộ bảo làm, các trường kêu khó!

Đào tạo tín chỉ trong 3 năm gần đây khiến nhiều trường gặp khó. Có phải ngành giáo dục chạy theo thành tích trong khi phần lớn các trường đều chưa đáp ứng được?

Việc áp dụng học chế tín chỉ trên toàn quốc trong năm học 2008 – 2009 tại Hội nghị tổng kết năm học vừa qua và triển khai phương hướng nhiệm vụ trong năm học mới do Bộ GDĐT tổ chức ngày 27/8, đã làm nóng không khí tranh luận giữa các trường và Bộ.

Đào tạo tín chỉ: Các trường kêu khó!

Các đại biểu tại đầu cầu TP.HCM

Năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT chủ trương triển khai học chế tín chỉ đại trà. Nhưng các trường, nhất là những trường ĐH, CĐ ngoài công lập và địa phương lại cho rằng rất khó thực hiện được.

Ông Lê Hồng Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật Bình Dương, cho rằng: “Các trường ngoài công lập không có đủ điều kiện về cơ sở vật chất để nâng cao kỹ năng và nghề nghiệp cho sinh viên. Nếu cứ theo quy định của Bộ về diện tích tối thiểu của một trường (tối thiểu là 5ha) thì phải mất khoảng 10 năm nữa mới triển khai được học chế tín chỉ.

Ông Hoàng Văn Cẩn - Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM cũng khẳng định: “Cơ sở vật chất hết sức quan trọng trong đào tạo tín chỉ. Nếu thực hiện đào tạo tín chỉ trong năm 2009 thì trường sư phạm cũng trả lời ngay là không thể thực hiện được vì cơ sở xuống cấp trầm trọng. Trường cũng muốn cải tạo cơ sở vật chất nhưng không được vì chưa có sổ đỏ dù đã tọa lạc 32 năm”.

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Hiệu trưởng CĐ Sư Phạm Bình Dương, thắc mắc: “Đào tạo tín chỉ trong 3 năm gần đây khiến nhiều trường đang gặp nhiều khó khăn. Có phải ngành giáo dục chạy theo thành tích trong khi phần lớn các trường đều chưa đáp ứng được”.

Hiệu trưởng ĐH Tiền Giang, chia sẻ kinh nghiệm: “Phải chuẩn bị thật kỹ trong việc chuẩn bị sang hệ thống tín chỉ, năm vừa rồi trường đã triển khai nhưng hiện rất bộn bề và mờ nhạt. Tại sao cái gì cũng chung, nhưng không có một phần mềm tín chỉ chung?”.

Sau khi lắng nghe ý kiến của các trường, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo: “Cục Công nghệ thông tin cần rà soát lại xem các trường đang dùng phần mềm quản lý nào. Đến tháng 10/2008, Cục Công nghệ thông tin phải có báo cáo và từ đó tìm ra một phần mềm chung cho quản lý đào tạo theo tín chỉ”.

Cần tận dụng giảng viên Việt kiều...

TS Bùi Trân Phượng. Ảnh Đ.T

Nhiều trường ngoài công lập chưa đảm bảo điều kiện về đội ngũ giảng viên cơ hữu cho việc mở ngành theo quy định. Cụ thể, trường ĐHDL Phú Xuân đã tuyển sinh và đào tạo 12 ngành đại học, nhưng chỉ có 3 giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ; trường CĐ Kinh tế kỹ thuật Đông Du (Đà Nẵng) đào tạo ngành Kế toán với 850 sinh viên, nhưng chỉ có 6 giảng viên cơ hữu có trình độ đại học đúng chuyên ngành; trường ĐH Công nghệ thông tin Gia Định đã có quyết định mở 7 ngành đào tạo trình độ đại học, nhưng hiện nay ngành Quản trị kinh doanh chỉ có 1 giảng viên cơ hữu là tiến sĩ.

Theo nhận xét của Bộ GD&ĐT, công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên ngoài công lập còn nhiều bất cập. Do vậy, đội ngũ giảng viên thường xuyên biến động, thiếu về số lượng và thiếu giảng viên cơ hữu có trình độ cao.

Theo phản ánh từ các trường, số lượng giảng viên có tăng nhưng chất lượng chưa được nâng cao là do Bộ chưa đưa ra được một “chuẩn” nào ràng buộc giảng viên tự “nâng cấp” bản thân trong quá trình giảng dạy, trong đó có yêu cầu tối thiểu là phải nghiên cứu khoa học. Vì thế, hiện có nhiều giảng viên yếu kém nhưng các trường không biết dựa vào đâu để buộc giảng viên nâng cao năng lực của mình.

Về vấn đề này, TS Bùi Trân Phượng – Hiệu trưởng ĐH Hoa Sen – cho rằng cần phải quốc tế hóa đội ngũ giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng. Nếu cứ tuân theo quy định là sử dụng giảng viên trong nước thì không thể đủ về số lượng và chất lượng. Vì vậy, bà Phương đề nghị: “Bộ cần có quy chế mở rộng để các trường tận dụng nguồn nhân lực ở nước ngoài, như Việt kiều, để có nguồn giảng viên phong phú và có chất lượng cao hơn”.

Đoan Trúc

(Nguồn: VietNamNet - 28/08/2008)

Đào tạo theo học chế tín chỉ : Thầy và trò đều chưa thích nghi

Tại hội nghị tổng kết giáo dục đại học năm học 2007 – 2008, nhiều trường đã phản ứng việc bộ Giáo dục và đào tạo triển khai học chế tín chỉ ngay trong năm học này. Một trong những lý do đưa ra: chưa có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và giảng viên. Tuy nhiên, qua tiếp xúc với nhiều sinh viên ở các trường đã và đang thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ trong nhiều năm qua, chúng tôi nhận thấy vấn đề không chỉ có như vậy

Một trong những yêu cầu của việc học theo tín chỉ là sinh viên phải chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức. Nhưng hiện nay, nhiều sinh viên không thể theo kịp vì chưa quen cách học. Ảnh chỉ có tính minh hoạ. Ảnh: L.H.T

Mỗi cuối năm, khoa kinh tế (đại học Quốc gia TP.HCM) phát cho mỗi sinh viên tờ thời khoá biểu với những môn học được sắp sẵn thời gian, phòng học, giáo viên. Trong đó chỉ có khoảng ba môn tự chọn là sinh viên có quyền lựa chọn để học một, hoặc hai môn theo yêu cầu của khoa. Những môn này chỉ chiếm chừng 30% thời lượng chương trình. Cho nên, dù có khả năng, nhưng chuyện học vượt gần như không thể.

Chưa hợp lý về thời gian

Phạm Thị Thanh Thuỷ, sinh viên lớp kế toán K05405B nói: “Mình học theo cách đào tạo mới này đã được ba năm, nhưng cách học này không khác gì cách học theo niên chế của các anh chị khoá trước. Cái khác có lẽ chỉ là mình không thể thi lại, nếu không may thi rớt mà thôi”. Còn Nguyễn Thu Trang, lớp K33, khoa sử trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cho biết cô muốn học nhiều hơn thời khoá biểu (thêm bốn môn chuyên ngành) nhưng lại không có lớp, muốn học vượt thì phải học thêm học kỳ. Lê Liên Anh, lớp K2006A, khoa ngữ văn Anh nói thêm: “Nhà trường cũng chưa tạo điều kiện cho sinh viên có thể thay đổi quyết định học, hay không học một môn nào đó”.

Một nghiên cứu của nhóm sinh viên Đặng Thị Bích Hằng, Phạm Thị Hoà, Hoàng Mai Anh, K50 và K51 tâm lý học trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội cho thấy hầu hết sinh viên chưa đồng tình với quy định về thời gian học của trường, cụ thể là “76,1% sinh viên được hỏi cho rằng thời khoá biểu do nhà trường sắp xếp là chưa hợp lý”. Nhiều sinh viên nói rằng các môn học được bố trí trải ra trong một ngày, nên sinh viên học một vài tiết buổi sáng rồi nghỉ, và đến chiều học một vài tiết nữa. Đối với những sinh viên ở xa, sẽ mất nhiều thời gian đi lại.

Có những buổi học kết thúc vào hết tiết cuối cùng của buổi sáng, nhưng môn học sau lại bắt đầu vào tiết đầu tiên của buổi chiều, do đó sinh viên chỉ có khoảng 50 phút để ăn, nghỉ trưa, chuyển giảng đường để học. Thời gian học không tập trung, lúc rải rác, lúc lại dồn dập. Không có thời gian rỗi cố định, nên người học khó sắp xếp lịch hoạt động cho mình.

Chuyện tự học còn rất... tự do

Nguồn tư liệu của các trường đại học hiện nay còn quá kém. Nghiên cứu thăm dò của sinh viên Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Minh Nguyệt, K51 thông tin – thư viện, đại học Quốc gia Hà Nội cho biết chỉ có 5% số người được hỏi tìm được từ 81 – 100% tài liệu mình cần ở thư viện. Có đến 60% sinh viên được hỏi cho rằng tài liệu trên thư viện lạc hậu.

Một trong những yêu cầu của việc học theo tín chỉ là sinh viên phải chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức. ThS Đỗ Kiều Oanh, trường đại học kinh tế (đại học Quốc gia Hà Nội) nhận xét: “Tính chủ động của sinh viên hiện còn rất thấp. Họ chưa quen làm việc độc lập, vẫn giữ tư duy dựa vào đội ngũ giáo viên. Sinh viên chưa có thói quen coi những giờ tự học, những buổi chuẩn bị là một phần của môn học”. Muốn chủ động trong việc tiếp cận tri thức, theo nhóm sinh viên Bích Hằng, người học phải có phương pháp học, đọc sách, tìm tài liệu, làm việc nhóm, lập kế hoạch thời gian, kỹ năng quản lý stress...

Với lối học thụ động từ phổ thông lên, sinh viên năm thứ nhất chưa được trang bị những kỹ năng đó. N.T.T.H, sinh viên năm 3 khoa địa lý cho biết: “Mình rất khó khăn để quen với cách học mới vì đã thấm đẫm kiểu học gạo trong suốt 12 năm”. Nhiều trường hợp xem chuyện tự học ở nhà là thời gian để làm những việc khác ngoài việc học bài. Bên cạnh đó, nhiều sinh viên hầu như không có thói quen lên thư viện.

Để thực hiện đào tạo tín chỉ, lịch giảng dạy phải thực hiện nghiêm ngặt, trong khi việc thực hiện đầy đủ các giờ lên lớp theo đúng lịch trình của từng tuần học hiện nay là chưa thể thực hiện được. Theo ThS Đỗ Kiều Oanh, nguyên nhân là do số lượng giáo viên giảng dạy môn học còn hạn chế; mỗi giáo viên lại phải cùng hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác nhau trong cùng một khoảng thời gian.

Ngoài ra, thầy cô cũng chưa quen thiết kế những chương trình ngoài giờ lên lớp cho sinh viên. Giáo trình áp dụng cho học chế tín chỉ vẫn là những giáo trình cũ của chương trình niên chế. Phạm Thị Kim Thoa, sinh viên lớp K07504A, khoa kinh tế (đại học Quốc gia TP.HCM ) nói: “Rất nhiều giờ học mà mình đến lớp chỉ để... ngủ vì thầy cô nói không khác gì trong giáo trình”.

Ánh Trân - Diệu Thuỳ

(Nguồn: SGTT - 20.09.2008)


 

Lập Ban chỉ đạo về đào tạo theo nhu cầu xã hội

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký quyết định thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về đào tạo theo nhu cầu xã hội giai đoạn 2008-2015. 

Các bạn trẻ đang tìm hiểu thông tin tại một hội chợ việc làm.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân được bổ nhiệm làm Trưởng ban. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bành Tiến Long và Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH  Đàm Hữu Đắc làm phó Trưởng ban. 13 ủy viên còn lại là thứ trưởng các Bộ Y tế, KHCN, GTVT…

Ban Chỉ đạo sẽ giúp Thủ tướng tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Ngoài ra, Ban còn có nhiệm vụ tham mưu cho Thủ tướng xây dựng các chính sách, cơ chế và điều phối các hoạt động đào tạo nhân lực đạt chất lượng và hiệu quả.

Bộ GD&ĐT có trách nhiệm bố trí kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo theo quy định.

Từ kết quả khảo sát của Dự án Giáo dục ĐH vừa qua đã cho thấy, chỉ có khoảng 60% sinh viên tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành và đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. 30% sinh viên tìm được việc làm ít sử dụng đến chuyên môn được đào tạo và số còn lại là làm việc không liên quan.

Cũng theo khảo sát, có tới 85% sinh viên tìm được việc làm là do tự học nâng cao trình độ, 55-60% là nhờ vốn kiến thức ngoại ngữ và kỹ năng tin học. 90% sinh viên không tìm được việc làm là do thiếu kinh nghiệm, không thể hiện được năng lực khi phỏng vấn xin việc, trong đó 80% là do ngoại ngữ yếu.

Ngọc Lê

(Nguồn: VietNamNet - 10/09/2008)

Thời sự & suy nghĩ : Đào tạo theo nhu cầu nào?

"Đào tạo theo nhu cầu xã hội" đã trở thành một cụm từ quen thuộc được nhắc đến thường xuyên trong các cuộc hội nghị, hội thảo của ngành giáo dục trong hơn một năm qua. Từ chỗ nhìn nhận điểm yếu kém nhất của hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục ĐH, là "đào tạo không đạt chuẩn, không theo địa chỉ và không đáp ứng nhu cầu xã hội, của các doanh nghiệp", Bộ GD-ĐT đang quyết tâm thực hiện chủ trương "đào tạo theo nhu cầu xã hội".

Nhưng xã hội đang cần gì, nhu cầu sử dụng của xã hội, của doanh nghiệp ra sao? Các cơ sở đào tạo phải đáp ứng như thế nào? Những câu hỏi này có lẽ các cơ sở đào tạo không tự mình trả lời được. Nói cách khác, các cơ sở đào tạo không thể tự xác định mình sẽ phải đào tạo để đáp ứng nhu cầu nào.

Nếu có, chắc hẳn cũng chỉ ở mức độ manh mún, đáp ứng cụ thể theo một vài đơn đặt hàng nào đó chứ không thể có đủ những thông tin, số liệu tổng quát để xây dựng được thành một chiến lược, định hướng đào tạo dài hạn và quy mô. Có tình trạng đó là vì đến thời điểm này cả nước chưa có cơ quan, đơn vị hay đầu mối nào làm nhiệm vụ thống kê, dự báo, cung cấp thông tin cho các cơ sở đào tạo về nhu cầu sử dụng nhân lực như số lượng, trình độ, cơ cấu ngành nghề...

Chính vì vậy, trên thực tế sự chuyển mình của các cơ sở đào tạo, khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của các trường chưa thể đẩy nhanh được như Bộ GD-ĐT mong muốn và xã hội trông chờ. Từ khi có mục tiêu "đào tạo theo nhu cầu xã hội", ngành giáo dục đã có rất nhiều hoạt động thực tiễn triển khai chủ trương này.

Đó là hàng loạt cuộc hội thảo diễn ra trong một năm qua và còn tiếp tục được tổ chức từ nay đến cuối năm. Bộ đã tổ chức các hội thảo quốc gia đào tạo nhân lực cho các vùng miền, cho từng ngành nghề, lĩnh vực. Tại các cuộc hội thảo, có hàng trăm hợp đồng, dự án đào tạo được ký kết giữa các trường và các doanh nghiệp. Nhưng từ chỗ ký kết đến việc thực hiện được các đơn đặt hàng đó không hề đơn giản.

Bộ GD-ĐT phải thừa nhận "các văn bản thỏa thuận đã được ký kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp tại các hội thảo quốc gia đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội triển khai còn chậm, hiệu quả chưa cao, thiếu cơ chế giám sát". Trên thực tế có trường ĐH sau khi ký kết tại hội thảo, có tới 30% các hợp đồng không được triển khai vì nhiều lý do.

Theo thông tin tại hội nghị tổng kết khối các trường ĐH, CĐ ngày 27-8, phải đến tháng 12-2008, việc thành lập hai trung tâm dự báo quốc gia nhu cầu nhân lực mới được thực hiện. Chắc chắn sẽ còn mất một thời gian dài sau đó để các trung tâm này có thể vận hành và đưa ra được dự báo nhu cầu nhân lực, cung cấp thông tin dự báo về cung cầu, điều phối đào tạo, sử dụng nhân lực, thị trường lao động...

Hơn nữa, khi bắt tay vào xây dựng các trung tâm dự báo quốc gia về nhân lực cũng như có kế hoạch xây dựng các trung tâm hỗ trợ đào tạo, cung ứng nhân lực ở các địa phương, người ta mới "phát hiện" đang... thiếu nhân lực được đào tạo bài bản có thể làm được những công việc này. Có lẽ để thực hiện được mục tiêu "đào tạo theo nhu cầu xã hội", trước hết ngành giáo dục còn phải lo đào tạo một số lượng nhân lực để làm được việc xác định xem xã hội đang cần gì. 

THANH HÀ

(Nguồn: Tuổi trẻ - 30/08/2008)

Nền giáo dục "lơ đãng" và trách nhiệm chỉ đạo

Nếu cần có một “ban chỉ đạo” làm việc liên quan đến nhu cầu đào tạo nhân lực của xã hội giai đoạn ngắn, thì phải nghiên cứu, thống kê chính xác từng ngành, từng nhóm doanh nghiệp, từng vùng đang cần bao nhiêu nhân lực, trình độ nào?

Lại có thêm một ban chỉ đạo nữa được thành lập – Ban chỉ đạo về đào tạo theo nhu cầu xã hội giai đoạn 2008 – 2015.

Công việc của ban này sẽ là “giúp Thủ tướng tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế”.

”Tham mưu cho Thủ tướng xây dựng các chính sách, cơ chế và điều phối các hoạt động đào tạo nhân lực đạt chất lượng và hiệu quả”.

Từ một nền giáo dục ‘lơ đãng”

Trong hoàn cảnh các doanh nghiệp, tổ chức, đang săn tìm nhân lực chất lượng cao. Có một “ban chỉ đạo” để giúp “thực hiện công tác theo nhu cầu” thì quả là hợp thời.

Nhưng xét rộng ra cả về phương diện xã hội, có ngành nào, lĩnh vực nào mà ta có đủ nhân lực đâu! Thiếu nhà khoa học, thiếu kĩ sư, thiếu bác sĩ, thiếu giáo viên, thiếu doanh nhân giỏi… và thiếu cả lao động có tay nghề.

Những cái “thiếu” này có hệ quả trực tiếp từ một nền giáo dục “lơ đãng” với nhu cầu xã hội.

Chương trình học đã quá lỗi lời, cách học, cách tư duy thụ động, kìm hãm phản biện và sáng tạo.

Trường đại học từ lâu đã xây một bức thành quá cao, ngăn biệt với cuộc sống bên ngoài – tuyển sinh cứ tuyển sinh, đào tạo cứ đào tạo, không cần biết đang thiếu cụ thể bao nhiêu kĩ sư, bao nhiêu bác sĩ, bao nhiêu thông dịch viên, biêu nhiêu nhà quản lí…

“Ban chỉ đạo” mới được thành lập – có lẽ - sẽ ngâm cứu và chọn ra những ngành đang thiếu thốn nhân lực nhất để đưa vào danh sách “nhu cầu xã hội”, theo thứ tự ưu tiên nhất trong chủ trương phát triển của nhà nước, giai đoạn 2008 – 2015.

Chỉ có điều, trong lúc một số “nhu cầu xã hội” được nhấn mạnh, còn lại mọi nhu cầu xã hội (không hề kém phần quan trọng) khác sẽ lại càng được đào tạo một cách tự phát, mất cân bằng.

Mùa tuyển sinh 2008 vừa qua, còn được xem như một cuộc đua “mỗi tỉnh lập thêm một trường đại học”. Các trường đại học cấp tỉnh, thành phố đua nhau mọc lên như nấm sau mưa. Mặc cho thiếu giáo viên, và cũng chẳng cần xét đến cái gọi là “nhu cầu xã hội thực sự”. Có chăng, chỉ là nhu cầu xã hội theo kiểu “cảm thấy thiếu”, “nghe nói thế”.

Minh bạch để biết nhu cầu xã hội

Vậy, cơ sở quan trọng nhất, căn bản nhất để xét “nhu cầu xã hội” là gì?

Đó là sự minh bạch về năng lực đào tạo thực tiễn của các trường đại học, và con số thống kê chuẩn xác về tình hình sử dụng nhân lực trên toàn quốc.

Mỗi năm, các trường đại học cần phải bắt buộc thống kê số sinh viên ra trường có việc làm ngay, có việc làm trong 6 tháng, có việc làm sau 1 năm… Việc làm đó được duy trì trong bao lâu? Thậm chí, nên có những điều tra kĩ lưỡng hơn: chương trình học ở trường đại học đã hỗ trợ cho sinh viên sau khi ra trường ở mức độ nào…

Nếu cần có một “ban chỉ đạo” làm việc liên quan đến nhu cầu đào tạo nhân lực của xã hội giai đoạn ngắn, thì thiết thực nhất, có lẽ là ban chỉ đạo phải làm thế nào để có được những nghiên cứu, thống kê chính xác từng ngành, từng nhóm doanh nghiệp, từng vùng đang cần bao nhiêu nhân lực, trình độ nào?

Khi mọi thứ được tỏ tường thì câu chuyện “đào tạo theo nhu cầu xã hội”, chắc không cần đến bàn tay can thiệp cụ thể của Chính phủ.

Bằng một cách hợp lí nhất , trường đại học sẽ buộc phải dạy theo nhu cầu xã hội – đa số người học sẽ nộp đơn tuyển sinh vào những trường “thức thời” nhất. Xã hội sẽ được nhận những sản phẩm đào tạo gần thực tiễn và có khả năng sử dụng cao nhất.

Và Chính phủ sẽ cần một ban chỉ đạo với chức năng hoàn toàn ngược lại.

Ban chỉ đạo về đào tạo KHÔNG theo nhu cầu xã hội

Xin nhấn mạnh là đào tạo không theo nhu cầu xã hội – theo nghĩa là các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội dài hạn chưa bộc lộ rõ nhu cầu. Đó là đào tạo ra các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản, các nhà phát minh, sáng chế.

Việt Nam ta có thói quen thừa hưởng công nghệ từ các nước phát triển. Đây là việc nên làm, để rút ngắn thời gian và tăng tốc phát triển.

Đào tạo ra các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản,
các nhà phát minh, sáng chế - tại sao không?

Song, ta lại quên mất việc mình cũng có thế mạnh về khoa học cơ bản – một thế mạnh đã được thế giới thừa nhận.

Mỗi năm, ta có hàng chục học sinh đoạt giải cao trong các kì thi Toán, Vật lí, Hóa Học, Sinh học cấp quốc tế. Đầu óc học sinh – sinh viên Việt Nam thuộc hàng đáng nể.

Nhưng thi rồi, đỗ rồi, được công nhận rồi, các em ấy được tiếp tục chăm sóc và tạo điều kiện phát triển ra sao? Thực tế là có em đi làm cho công ty nước ngoài. Có em đi làm kinh doanh – cũng thành công, nhưng một tinh hoa về khoa học bị vùi lấp.

Có em chôn vùi trong một viện nghiên cứu nào đó rặt những cây cao bóng cả, khó bề sáng tạo và phản biện. Cũng có cả em nhập luôn quốc tịch khác để theo đuổi một công trình nghiên cứu ở nước người.

Đây là vùng trống, thực sự cần có bàn tay của Nhà nước can thiệp, vì lợi ích chung lâu dài của xã hội. Khi đó Chính phủ mới cần hẳn một “ban chỉ đạo” để chọn ra những con “gà nòi”, thẩm định các đề tài nghiên cứu, tạo điều kiện hết mức để các em yên tâm nghiên cứu trong 10 năm, 20 năm, 30 năm, hay cả đời.

Nhu cầu xã hội trước mắt chưa cần điều đó, nhưng nhu cầu dài hạn đương nhiên là cần thiết.

Hẳn nhiên là ít có doanh nghiệp, trường đại học nào trong điều kiện nghèo như hiện nay lại ghé vai nhận trọng trách này. Đó là việc công – cần sự can thiệp của chính sách công.

Linh Thủy

(Nguồn: VietNamNet - 15/09/2008)

Các tin đã đưa
 
  Bản quyền thuộc về trường Đai Học Giao Thông Vận Tải TP HCM - 2005 Trang chủ| Giới thiệu| Email | Liên hệ